Có một lập luận hay được nghe khi bàn về doanh thu khống: “Mình ghi thêm doanh thu thì mình nộp thêm thuế, Nhà nước chỉ có lợi, có ai thiệt đâu mà phạt.” Lập luận này sai ở ba chỗ.
Thứ nhất, doanh thu khống hầu như không bao giờ đứng một mình. Muốn doanh thu đẹp mà không phải nộp thuế trên lợi nhuận ảo, doanh nghiệp thường cần thêm chi phí khống để cân lại, và chi phí khống là chuyện trốn thuế. Thứ hai, hóa đơn bán ra cho một giao dịch không có thật là hóa đơn khống theo định nghĩa của pháp luật, bị xử phạt độc lập với việc đã nộp thuế hay chưa. Thứ ba, người nhận hóa đơn đó, nếu dùng nó để khấu trừ thuế hay tính chi phí, sẽ đi thẳng vào hành vi trốn thuế.
Bài viết đi qua cả ba chỗ, theo đúng chiều tiền và hóa đơn chạy: bên lập hóa đơn khống, bên nhận hóa đơn khống, và phần thuế đã nộp trên doanh thu không có thật.
- Hóa đơn khống là hóa đơn đã ghi các chỉ tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ không có thật một phần hoặc toàn bộ (Điều 3 Nghị định 254/2026/NĐ-CP). Lập hóa đơn khống thuộc nhóm sử dụng không hợp pháp hóa đơn.
- Sử dụng không hợp pháp hóa đơn bị phạt 20 đến 50 triệu đồng (Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, mức cho tổ chức), kể cả khi doanh nghiệp đã nộp đủ thuế trên hóa đơn đó.
- Bên nhận dùng hóa đơn khống để khai giảm thuế là trốn thuế, phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn (Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP), và có thể bị truy cứu hình sự từ 100 triệu đồng tiền thuế trốn (Điều 200 Bộ luật Hình sự).
- Mua bán hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số, hoặc thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng, là ngưỡng hình sự của tội mua bán trái phép hóa đơn (Điều 203 Bộ luật Hình sự).
- Thuế đã nộp trên doanh thu khống không làm hóa đơn trở thành hợp pháp. Muốn điều chỉnh lại thì phải khai bổ sung, tức là tự xác nhận hóa đơn đã lập không có giao dịch thật.
1. Hóa đơn khống là gì, theo đúng chữ của luật
Điều 3 Nghị định 254/2026/NĐ-CP về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (hiệu lực từ ngày 01/7/2026) tách hai khái niệm dễ lẫn:
| Khái niệm | Gồm những gì (trích ý chính) |
|---|---|
| Sử dụng hóa đơn không hợp pháp | Dùng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có hoặc hết giá trị sử dụng, hóa đơn bị ngừng sử dụng khi đang bị cưỡng chế, hóa đơn có ngày lập từ ngày bên bán bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký… |
| Sử dụng không hợp pháp hóa đơn | Dùng hóa đơn tẩy xóa, sửa chữa sai quy định; dùng hóa đơn khống; dùng hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh hoặc lập hóa đơn khống, lập hóa đơn giả; dùng hóa đơn quay vòng khi vận chuyển hàng hóa; dùng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc bán ra… |
Định nghĩa hóa đơn khống nằm ngay trong ngoặc của nhóm thứ hai: hóa đơn, chứng từ đã ghi các chỉ tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ không có thật một phần hoặc toàn bộ.
Hai chữ “một phần” rất quan trọng với chuyện nâng doanh thu. Một giao dịch có thật nhưng hóa đơn ghi giá trị cao hơn thực tế, hoặc ghi số lượng nhiều hơn số hàng thật sự giao, vẫn rơi vào định nghĩa. Và cụm “phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh” bao luôn trường hợp thổi giá giữa các bên liên quan mà không có hàng hóa, dịch vụ tương xứng, như cơ chế đã phân tích ở bài doanh thu từ bên liên quan.
2. Bên lập hóa đơn khống: nộp thuế rồi vẫn bị phạt
Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp và sử dụng không hợp pháp hóa đơn:
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn […], trừ trường hợp được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 16 và điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định này.
Mức này là mức cho tổ chức: điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tại Chương III là mức áp dụng đối với tổ chức. Cá nhân chịu một nửa, vì điểm e khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 quy định với cùng một hành vi, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân.
Điểm cần nhấn mạnh: điều khoản này không hỏi doanh nghiệp đã nộp thuế trên hóa đơn chưa. Hành vi bị phạt là lập và dùng một hóa đơn không phản ánh giao dịch có thật. Việc doanh nghiệp tự nguyện nộp thêm thuế giá trị gia tăng đầu ra và thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu khống không xóa được hành vi đó.
2.1. Cái bẫy của doanh thu khống: phải có chi phí khống đi kèm
Hãy thử tính một phương án làm đẹp doanh thu thuần túy. Doanh nghiệp ghi thêm 10 tỷ đồng doanh thu không có thật. Lợi nhuận kế toán tăng 10 tỷ đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng theo, chưa kể thuế giá trị gia tăng đầu ra trên hóa đơn. Tiền để nộp số thuế này là tiền thật.
Vì vậy trên thực tế, doanh thu khống hay đi cặp với chi phí khống: doanh nghiệp mua thêm hóa đơn đầu vào để cân lợi nhuận và thuế giá trị gia tăng. Tới đây, doanh nghiệp đã đứng ở cả hai đầu của chuỗi hóa đơn khống, và đầu mua vào là trốn thuế.
| Bước | Doanh nghiệp làm gì | Rơi vào đâu |
|---|---|---|
| 1 | Lập hóa đơn bán ra không có giao dịch thật | Sử dụng không hợp pháp hóa đơn, Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ-CP |
| 2 | Nộp thuế giá trị gia tăng đầu ra, thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu khống | Tốn tiền thật; không làm hóa đơn thành hợp pháp |
| 3 | Mua hóa đơn đầu vào để cân lại thuế | Sử dụng hóa đơn khống để khai giảm thuế: trốn thuế, Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP; có thể là tội trốn thuế, Điều 200 Bộ luật Hình sự |
| 4 | Trả tiền cho bên bán hóa đơn | Bên bán có thể phạm tội mua bán trái phép hóa đơn, Điều 203 Bộ luật Hình sự; doanh nghiệp mua có thể bị xem xét cùng hành vi |
3. Bên nhận hóa đơn khống: chiều bị soi kỹ nhất
Người nhận hóa đơn khống thường dùng nó để làm hai việc: khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và tính vào chi phí được trừ. Cả hai đều cần hóa đơn phản ánh giao dịch có thật. Điều kiện khấu trừ tại khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 bắt đầu bằng việc có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Một hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ đi kèm thì không có gì để khấu trừ.
Khi dùng hóa đơn khống để khai giảm thuế, bên nhận rơi vào điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP: sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm. Đây là hành vi trốn thuế.
| Tình huống của bên nhận | Xử lý | Căn cứ |
|---|---|---|
| Dùng hóa đơn khống để khai giảm thuế | Trốn thuế: phạt từ 1 lần tới 3 lần số thuế trốn tùy tình tiết; nộp đủ thuế trốn | Điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP |
| Dùng hóa đơn không hợp pháp nhưng chứng minh được lỗi thuộc bên bán và đã hạch toán đầy đủ | Khai sai: phạt 20% số thuế khai thiếu; nộp đủ thuế thiếu và tiền chậm nộp | Điểm đ khoản 1 Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP |
| Số thuế trốn từ 100 triệu đồng | Có thể bị truy cứu tội trốn thuế: phạt tiền 100 đến 500 triệu đồng hoặc tù 03 tháng đến 01 năm ở khung đầu | Khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi bởi Luật số 12/2017/QH14 |
Dòng thứ hai là lối ra duy nhất của người mua ngay tình, và nó chỉ mở khi giao dịch là có thật và lỗi thuộc bên bán. Khi chính người mua biết giao dịch không có thật, không có lối ra đó. Cách dựng hồ sơ cho trường hợp giao dịch có thật mà bên bán bỏ trốn được phân tích ở bài bên bán bỏ trốn sau khi xuất hóa đơn.
4. Ngưỡng hình sự của việc mua bán hóa đơn
Điều 203 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 quy định tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Khung đầu tiên (khoản 1) áp dụng khi mua bán trái phép:
- hóa đơn ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; hoặc
- hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số; hoặc
- thu lợi bất chính từ 30 triệu đến dưới 100 triệu đồng.
Hình phạt: phạt tiền từ 50 đến 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung thứ hai (khoản 2), tù từ 01 đến 05 năm, áp dụng khi có tổ chức, có tính chuyên nghiệp, hóa đơn đã ghi nội dung từ 30 số trở lên, thu lợi hoặc gây thiệt hại cho ngân sách từ 100 triệu đồng trở lên. Pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu, với mức phạt tiền từ 100 triệu tới 1 tỷ đồng theo khoản 4.
Mười hóa đơn đã ghi nội dung là một con số rất nhỏ. Một doanh nghiệp làm đẹp doanh thu bằng các hợp đồng khống với vài “khách hàng” trong một năm có thể chạm ngưỡng này mà không nhận ra, nhất là khi các hóa đơn đó được đem đi bán cho người cần hóa đơn đầu vào.
5. Thuế đã nộp trên doanh thu khống thì sao
Đây là câu hỏi người trong cuộc hay hỏi nhất khi vụ việc lộ ra: công ty đã nộp thuế trên 10 tỷ đồng doanh thu không có thật, có lấy lại được không?
Về nguyên tắc, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 cho phép người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi phát hiện sai sót trong thời hạn 05 năm (khoản 5 Điều 12). Nhưng khai bổ sung giảm doanh thu với lý do “doanh thu này không có thật” cũng chính là tự xác nhận các hóa đơn đã lập là hóa đơn khống, kèm theo mọi hệ quả ở mục 2 và mục 4. Và nếu các hóa đơn đó đã được bên nhận dùng để khấu trừ, cơ quan thuế sẽ lần theo cả chuỗi.
Nói cách khác, thuế đã nộp trên doanh thu khống là một chi phí rất khó lấy lại, và cố lấy lại thì mở ra những chi phí lớn hơn. Đó là lý do lập luận “mình nộp thêm thuế thì có ai thiệt” không đứng được: người đầu tiên thiệt là chính doanh nghiệp.
6. Người làm kế toán cần để ý gì
- Mỗi hóa đơn bán ra phải có hàng đi hoặc việc làm đi kèm: phiếu xuất kho, biên bản giao nhận, biên bản nghiệm thu, chứng từ vận chuyển. Hóa đơn nào không ghép được với chứng từ giao hàng là hóa đơn cần hỏi lại trước khi phát hành.
- Không lập hóa đơn theo yêu cầu “cho đủ doanh số”, kể cả khi được bảo là sẽ nộp đủ thuế. Người trực tiếp lập hóa đơn là người đầu tiên bị hỏi. Ranh giới trách nhiệm của kế toán trong những việc này được phân tích ở bài hợp thức hóa chi phí: khi nào bị xem là đồng phạm.
- Soát hóa đơn đầu vào của những kỳ doanh thu tăng đột biến. Nếu doanh thu tăng mà lợi nhuận và thuế phải nộp gần như không đổi, rất có thể phía chi phí cũng đã được “cân” bằng hóa đơn không có thật.
- Nêu ý kiến bằng văn bản khi được yêu cầu làm khác. Từ ngày 01/01/2025, quyền bảo lưu ý kiến bằng văn bản áp dụng cho mọi người làm kế toán theo khoản 2 Điều 51 Luật Kế toán được sửa đổi bởi Luật số 56/2024/QH15. Trách nhiệm của kế toán khi doanh nghiệp trốn thuế được phân tích ở bài doanh nghiệp trốn thuế, kế toán có bị truy cứu không.
Kết luận
Doanh thu khống không phải chuyện riêng của báo cáo tài chính. Mỗi đồng doanh thu không có thật đi kèm một hóa đơn không có thật, và pháp luật về hóa đơn xử lý hóa đơn đó độc lập với việc thuế đã được nộp hay chưa. Khi doanh nghiệp cần cân lại thuế bằng hóa đơn đầu vào, câu chuyện chuyển hẳn sang trốn thuế, và khi hóa đơn được mua bán, sang tội mua bán trái phép hóa đơn.
Lập luận “nộp thêm thuế thì Nhà nước có lợi” chỉ đứng được nếu doanh thu khống dừng ở đúng một dòng trên sổ. Trên thực tế nó hiếm khi dừng ở đó.
Xuất hóa đơn bán hàng nhưng không có giao dịch thật, đã nộp đủ thuế thì có bị phạt không?
Có. Hóa đơn ghi nội dung nghiệp vụ nhưng việc mua bán không có thật là hóa đơn khống theo Điều 3 Nghị định 254/2026/NĐ-CP. Hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn bị phạt từ 20 đến 50 triệu đồng theo Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, mức cho tổ chức, không phụ thuộc vào việc đã nộp thuế hay chưa.
Hóa đơn ghi giá cao hơn thực tế có phải hóa đơn khống không?
Định nghĩa hóa đơn khống bao gồm cả trường hợp việc mua bán không có thật một phần. Dùng hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh cũng nằm trong nhóm sử dụng không hợp pháp hóa đơn tại Điều 3 Nghị định 254/2026/NĐ-CP.
Bên mua nhận hóa đơn khống thì bị xử lý thế nào?
Nếu dùng hóa đơn đó để khai giảm thuế thì là trốn thuế theo điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, bị phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn và phải nộp đủ số thuế. Số thuế trốn từ 100 triệu đồng có thể bị truy cứu tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Mua bán bao nhiêu hóa đơn thì bị truy cứu hình sự?
Theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự, mua bán trái phép hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số, hoặc hóa đơn dạng phôi từ 50 số, hoặc thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng là đủ ngưỡng của khung đầu tiên.
Thuế đã nộp trên doanh thu khống có được lấy lại không?
Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15 cho phép khai bổ sung khi phát hiện sai sót trong thời hạn 05 năm. Tuy nhiên khai bổ sung giảm doanh thu vì doanh thu không có thật cũng là tự xác nhận các hóa đơn đã lập là hóa đơn khống, kéo theo xử phạt về hóa đơn và việc cơ quan thuế lần theo những bên đã dùng các hóa đơn đó.
- Nghị định số 254/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, hiệu lực từ ngày 01/7/2026: Điều 3
- Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, hiệu lực từ ngày 05/12/2020, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP, Nghị định số 310/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 16/01/2026) và Nghị định số 291/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 21/7/2026): điểm a khoản 4 Điều 7, điểm đ khoản 1 Điều 16, Điều 17, Điều 28
- Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025: khoản 2 Điều 14
- Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2026: khoản 5 Điều 12
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 (hiệu lực từ ngày 01/01/2018): Điều 200, Điều 203
- Luật Kế toán số 88/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/01/2025): khoản 2 Điều 51
- Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 67/2020/QH14 và Luật số 88/2025/QH15: điểm e khoản 1 Điều 3
Cùng tuyến bài: nâng khống doanh thu
Bản đồ cả tuyến: Nâng khống doanh thu: bản đồ các câu hỏi, ba nấc hệ quả và năm việc kế toán nên làm
- Man City và 115 cáo buộc: khi tiền của chủ đi một vòng thành doanh thu
- Tiền chủ sở hữu đưa vào công ty: doanh thu, thu nhập khác, vốn góp hay nợ vay
- Doanh thu từ bên liên quan: bốn chỗ con số có thể bị gạt đi
- Bảy kiểu nâng khống doanh thu và dấu vết chúng để lại trên báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính có doanh thu khống: người ép, người làm, người ký chịu tới đâu
- Bộ báo cáo để đi vay: nâng doanh thu cho ngân hàng, gói thầu, nhà đầu tư, và ranh giới lừa đảo
- Kiểm toán nhìn doanh thu thế nào: vì sao doanh thu luôn bị nghi trước, và kế toán chuẩn bị gì
- Luckin Coffee, Wirecard, Satyam: ba vụ nâng khống doanh thu và những dấu hiệu đã bị bỏ qua
Bài liên quan
Để lại một bình luận