Trong nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, có một câu nói quen tới mức không ai thấy lạ: “Làm cho anh một bộ báo cáo để đi vay.” Bộ báo cáo đó có doanh thu cao hơn, lợi nhuận đẹp hơn bộ nộp cơ quan thuế. Nó được đem tới ngân hàng, tới bên mời thầu, hoặc tới nhà đầu tư đang cân nhắc góp vốn.
Chừng nào khoản vay được trả đủ, hợp đồng được làm xong, nhà đầu tư không mất tiền, mọi người coi như không có chuyện gì. Nhưng pháp luật không đợi tới lúc có thiệt hại mới xét. Riêng việc có hai bộ báo cáo cho cùng một kỳ đã là hành vi bị cấm. Và khi khoản tiền nhận được nhờ bộ báo cáo đó không trả lại được, câu chuyện có thể chuyển từ sai phạm kế toán sang một tội danh hoàn toàn khác: lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bài viết đi qua ba đích đến phổ biến của một bộ báo cáo làm đẹp: ngân hàng, gói thầu và nhà đầu tư. Với mỗi đích, bài chỉ ra hệ quả khi bị phát hiện, và ranh giới mà sau đó câu chuyện không còn là chuyện kế toán.
- Luật Kế toán cấm cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán (khoản 10 Điều 13). Hành vi này bị phạt 20 đến 30 triệu đồng với tổ chức (điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP).
- Ngân hàng có quyền chấm dứt cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật (khoản 1 Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng 32/2024/QH15).
- Dự thầu bằng tài liệu không trung thực là hành vi gian lận bị cấm (khoản 4 Điều 16 Luật Đấu thầu 22/2023/QH15), có thể bị cấm tham gia đấu thầu từ 06 tháng đến 05 năm.
- Nhà đầu tư góp vốn vì bị lừa dối có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu trong 02 năm kể từ ngày biết (Điều 127, 132 Bộ luật Dân sự).
- Ranh giới hình sự là chiếm đoạt: dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác từ 2 triệu đồng là tội lừa đảo (Điều 174 Bộ luật Hình sự), với khung cao nhất tới tù chung thân.
1. Hai bộ báo cáo: sai ngay từ trước khi dùng
Điều 13 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 liệt kê các hành vi bị nghiêm cấm. Khoản 10 là hành vi đúng với “bộ báo cáo để đi vay”:
Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên hoặc cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán.
Điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP phạt từ 20 đến 30 triệu đồng hành vi cung cấp, công bố các báo cáo tài chính để sử dụng tại Việt Nam có số liệu không đồng nhất trong một kỳ kế toán. Nghị định 132/2026/NĐ-CP khi viết lại khoản 2 Điều 6 không đưa Điều 12 vào danh sách mức phạt cá nhân, nên đây là mức áp cho tổ chức.
Nếu con số trên bộ báo cáo “để đi vay” là con số được dựng lên, hành vi còn chạm tới khoản 4 Điều 11 cùng nghị định: khai man số liệu trên báo cáo tài chính, phạt 40 đến 50 triệu đồng với cá nhân, tổ chức gấp đôi, như đã phân tích ở bài lập báo cáo tài chính gian dối.
Hai hệ quả này phát sinh trước khi có bất kỳ thiệt hại nào. Chúng chỉ cần một điều kiện: có hai bộ số cho cùng một kỳ và cả hai được đem ra dùng.
2. Đích thứ nhất: ngân hàng
Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/7/2024) trao cho ngân hàng một công cụ rất mạnh tại khoản 1 Điều 103:
Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm.
Với doanh nghiệp đang dùng vốn vay cho sản xuất, thu hồi nợ trước hạn thường nghiêm trọng hơn bất kỳ mức phạt hành chính nào: toàn bộ dư nợ phải trả ngay, tài sản bảo đảm có thể bị xử lý, và thông tin tín dụng của doanh nghiệp bị ảnh hưởng ở các khoản vay sau.
Ngân hàng phát hiện bằng cách nào? Cách phổ biến nhất là đối chiếu báo cáo doanh nghiệp nộp với dữ liệu mà ngân hàng tự có hoặc tự thu thập được: báo cáo đã nộp cơ quan thuế, sao kê dòng tiền qua chính ngân hàng đó, hóa đơn điện tử. Doanh thu trên báo cáo lớn gấp đôi tổng tiền khách hàng chuyển về tài khoản là loại chênh lệch rất khó giải thích. Các dấu vết khác được liệt kê ở bài bảy kiểu nâng khống doanh thu.
3. Đích thứ hai: gói thầu
Hồ sơ dự thầu thường yêu cầu chứng minh năng lực tài chính: doanh thu bình quân, lợi nhuận, số hợp đồng tương tự. Đây là chỗ doanh thu được làm đẹp nhiều nhất.
Khoản 4 Điều 16 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 xếp vào hành vi gian lận, một trong các hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu:
- làm giả hoặc làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu trong đấu thầu (điểm a);
- cố ý cung cấp thông tin, tài liệu không trung thực, không khách quan trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất… nhằm làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư (điểm b).
Hệ quả theo Điều 87: ngoài việc bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu hình sự tùy mức độ, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bị cấm còn có thể bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 06 tháng đến 05 năm, và quyết định cấm được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Với doanh nghiệp sống chủ yếu bằng các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu, đây gần như là một bản án đóng cửa.
Hai luật sửa đổi Luật Đấu thầu là Luật số 57/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15 không sửa khoản 4 Điều 16. Luật số 90/2025/QH15 chỉ thay tên cơ quan có thẩm quyền cấm trên phạm vi toàn quốc tại Điều 87 từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư sang Bộ Tài chính.
4. Đích thứ ba: nhà đầu tư
Khi báo cáo làm đẹp được dùng để thuyết phục một người góp vốn, mua cổ phần, có hai lớp hệ quả.
4.1. Lớp dân sự: giao dịch có thể bị tuyên vô hiệu
Điều 127 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 cho phép bên bị lừa dối yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Lừa dối được định nghĩa là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó. Một nhà đầu tư quyết định góp vốn dựa trên doanh thu không có thật là trường hợp điển hình. Thời hiệu yêu cầu là 02 năm kể từ ngày người bị lừa dối biết hoặc phải biết (điểm b khoản 1 Điều 132).
4.2. Lớp chứng khoán: khi chào bán cổ phần
Nếu việc gọi vốn là chào bán cổ phần riêng lẻ hoặc ra công chúng theo pháp luật chứng khoán, hồ sơ chào bán có thông tin sai lệch bị xử phạt nặng. Khoản 6 Điều 8 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 306/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 09/01/2026), phạt từ 500 đến 600 triệu đồng hành vi lập, xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán, phát hành cổ phiếu riêng lẻ có thông tin sai lệch, sai sự thật hoặc che giấu sự thật. Đây là mức với tổ chức. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chào bán chứng khoán tại Điều 209 Bộ luật Hình sự cũng có thể được xem xét khi có thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1 tỷ đồng.
5. Ranh giới hình sự: từ gian dối thành lừa đảo
Ba đích đến trên có chung một điểm: người nhận báo cáo giao ra một tài sản (khoản vay, giá trị hợp đồng, vốn góp) dựa trên con số trong báo cáo. Điều 174 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 định nghĩa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng đúng cấu trúc đó:
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng […] thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
| Khoản | Giá trị chiếm đoạt | Hình phạt |
|---|---|---|
| 1 | Từ 2 triệu đến dưới 50 triệu đồng | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng đến 03 năm |
| 2 | Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; hoặc có tổ chức, chuyên nghiệp, lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt | Tù 02 đến 07 năm |
| 3 | Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng | Tù 07 đến 15 năm |
| 4 | Từ 500 triệu đồng trở lên | Tù 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân |
Chữ quyết định trong điều luật là chiếm đoạt. Một doanh nghiệp dùng báo cáo làm đẹp để vay, rồi trả đủ gốc lãi đúng hạn, đã vi phạm Luật Kế toán và cho ngân hàng quyền thu hồi nợ trước hạn, nhưng khó nói là đã chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Ngược lại, khi khoản vay, khoản vốn góp nhận được nhờ báo cáo khống không được trả lại, người nhận dùng sai mục đích hoặc tìm cách tẩu tán, thì thủ đoạn gian dối ban đầu và việc không trả sau đó ghép lại thành đúng cấu trúc của Điều 174. Việc xác định có ý thức chiếm đoạt hay không là việc của cơ quan tiến hành tố tụng, dựa trên toàn bộ tình tiết của từng vụ.
Với khoản vay ngân hàng hay vốn góp của doanh nghiệp, giá trị thường tính bằng tỷ đồng, tức là đã ở khung cao nhất của Điều 174 ngay khi hành vi bị xác định là chiếm đoạt. Khoảng cách giữa “làm đẹp báo cáo cho dễ vay” và “tù 12 đến 20 năm” chỉ nằm ở việc khoản tiền có được trả lại hay không.
Người lập bộ báo cáo đó, nếu biết rõ mục đích và số liệu là không có thật, có thể bị xem xét vai trò giúp sức. Cách luật nhìn vai trò đồng phạm của người làm kế toán được phân tích ở bài hợp thức hóa chi phí: khi nào bị xem là đồng phạm.
6. Người làm kế toán nên làm gì
- Chỉ có một bộ báo cáo cho mỗi kỳ. Khi được yêu cầu “làm thêm một bộ”, câu trả lời có căn cứ nhất là khoản 10 Điều 13 Luật Kế toán.
- Nếu doanh nghiệp cần trình bày triển vọng cho ngân hàng hay nhà đầu tư, hãy làm đúng tên của nó: kế hoạch kinh doanh, dự báo dòng tiền, ghi rõ là số dự kiến. Đó là tài liệu hợp pháp. Báo cáo tài chính là số đã xảy ra.
- Soát hồ sơ năng lực dự thầu trước khi nộp: doanh thu, hợp đồng tương tự phải khớp với báo cáo tài chính đã nộp và hợp đồng thật.
- Bảo lưu ý kiến bằng văn bản khi bị yêu cầu làm khác, theo khoản 2 Điều 51 Luật Kế toán được sửa đổi bởi Luật số 56/2024/QH15.
Kết luận
Một bộ báo cáo làm đẹp để đi vay, dự thầu hay gọi vốn đi qua ba nấc hệ quả. Nấc đầu có ngay khi bộ báo cáo thứ hai ra đời: vi phạm Luật Kế toán. Nấc thứ hai đến khi bị phát hiện: ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, doanh nghiệp bị cấm dự thầu, nhà đầu tư đòi hủy giao dịch. Nấc thứ ba đến khi tiền không trả lại được: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Doanh nghiệp càng cần vốn thì càng dễ nghĩ tới bộ báo cáo thứ hai, và cũng càng ít khả năng trả được khoản tiền nhận về nhờ nó. Đó chính là con đường ngắn nhất từ nấc một lên nấc ba.
Làm hai bộ báo cáo tài chính, một bộ nộp thuế, một bộ đi vay có sao không?
Có. Khoản 10 Điều 13 Luật Kế toán cấm cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán. Điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP phạt hành vi này từ 20 đến 30 triệu đồng với tổ chức. Nếu số liệu là khai man thì còn bị phạt theo khoản 4 Điều 11.
Ngân hàng phát hiện báo cáo tài chính không đúng thì làm gì?
Theo khoản 1 Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng 32/2024/QH15, tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật.
Nâng doanh thu trong hồ sơ dự thầu bị xử lý thế nào?
Cố ý cung cấp tài liệu không trung thực trong hồ sơ dự thầu là hành vi gian lận bị cấm theo khoản 4 Điều 16 Luật Đấu thầu 22/2023/QH15. Ngoài xử phạt hoặc truy cứu tùy mức độ, nhà thầu có thể bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 06 tháng đến 05 năm theo Điều 87.
Khi nào dùng báo cáo tài chính khống thành tội lừa đảo?
Khi có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Yếu tố quyết định là chiếm đoạt: khoản vay, vốn góp nhận được nhờ báo cáo khống không được trả lại. Việc xác định thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng trong từng vụ cụ thể.
Nhà đầu tư góp vốn vì tin báo cáo khống có đòi lại được không?
Có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 Bộ luật Dân sự, trong thời hiệu 02 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết mình bị lừa dối theo điểm b khoản 1 Điều 132.
- Luật Kế toán số 88/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/01/2025): khoản 10 Điều 13, khoản 2 Điều 51
- Nghị định số 41/2018/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP và Nghị định số 132/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 21/5/2026): khoản 2 Điều 6, khoản 4 Điều 11, điểm b khoản 3 Điều 12
- Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15 (không sửa Điều 103): khoản 1 Điều 103
- Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, hiệu lực từ ngày 01/01/2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 57/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/7/2025): khoản 4 Điều 16, Điều 87
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, hiệu lực từ ngày 01/01/2017: Điều 127, Điều 132
- Nghị định số 156/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-CP và Nghị định số 306/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 09/01/2026): khoản 6 Điều 8
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 (hiệu lực từ ngày 01/01/2018): Điều 174, Điều 209
Cùng tuyến bài: nâng khống doanh thu
Bản đồ cả tuyến: Nâng khống doanh thu: bản đồ các câu hỏi, ba nấc hệ quả và năm việc kế toán nên làm
- Man City và 115 cáo buộc: khi tiền của chủ đi một vòng thành doanh thu
- Tiền chủ sở hữu đưa vào công ty: doanh thu, thu nhập khác, vốn góp hay nợ vay
- Doanh thu từ bên liên quan: bốn chỗ con số có thể bị gạt đi
- Bảy kiểu nâng khống doanh thu và dấu vết chúng để lại trên báo cáo tài chính
- Doanh thu khống và thuế: nộp thêm thuế rồi vẫn bị phạt, và chuỗi hóa đơn khống hai đầu
- Báo cáo tài chính có doanh thu khống: người ép, người làm, người ký chịu tới đâu
- Kiểm toán nhìn doanh thu thế nào: vì sao doanh thu luôn bị nghi trước, và kế toán chuẩn bị gì
- Luckin Coffee, Wirecard, Satyam: ba vụ nâng khống doanh thu và những dấu hiệu đã bị bỏ qua
Bài liên quan
Để lại một bình luận