Nhiều kế toán lần đầu làm việc với kiểm toán độc lập thấy khó chịu vì một điều: kiểm toán viên hỏi về doanh thu kỹ hơn hẳn mọi khoản mục khác. Hợp đồng lớn tháng 12 được hỏi từng phụ lục, khách hàng được gửi thư xác nhận, phiếu xuất kho những ngày cuối năm được lật từng tờ. Cảm giác như mình đang bị nghi.
Cảm giác đó đúng, và nó không mang tính cá nhân. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam buộc kiểm toán viên bắt đầu mọi cuộc kiểm toán với giả định rằng có rủi ro gian lận trong việc ghi nhận doanh thu. Muốn bỏ giả định đó, kiểm toán viên phải có lý do và ghi lại lý do trong hồ sơ.
Bài viết giải thích giả định đó đến từ đâu, kiểm toán viên được hướng dẫn làm những thủ tục gì với doanh thu, và người làm kế toán nên chuẩn bị ra sao để buổi làm việc với kiểm toán đi nhanh và không bất ngờ.
- Đoạn 26 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240: khi đánh giá rủi ro gian lận, kiểm toán viên phải dựa trên giả định rằng có rủi ro có gian lận trong việc ghi nhận doanh thu. Muốn loại bỏ giả định này phải lưu cơ sở vào hồ sơ kiểm toán (đoạn 47).
- Rủi ro gian lận đã đánh giá được coi là rủi ro đáng kể (đoạn 27), nên kiểm toán viên phải tìm hiểu cả các kiểm soát liên quan của đơn vị.
- Theo hướng dẫn của chuẩn mực, gian lận về doanh thu thường là ghi nhận thừa: ghi trước kỳ hoặc ghi khống. Rủi ro cao hơn ở tổ chức niêm yết chịu áp lực tăng trưởng và ở đơn vị bán hàng chủ yếu thu tiền mặt.
- Năm thủ tục mẫu với doanh thu: phân tích theo tháng và dòng sản phẩm; xác nhận điều khoản và “thỏa thuận phụ” với khách hàng; phỏng vấn nhân viên bán hàng; có mặt cuối kỳ để kiểm tra chia cắt niên độ; kiểm tra kiểm soát hệ thống.
- Dù đánh giá rủi ro thế nào, kiểm toán viên vẫn phải kiểm tra bút toán ghi sổ và điều chỉnh cuối kỳ (đoạn 32).
1. Giả định mặc định: doanh thu có rủi ro gian lận
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 “Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính” được ban hành kèm Thông tư 214/2012/TT-BTC, hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Theo cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia, Thông tư này vẫn còn hiệu lực.
Đoạn 26: Khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, kiểm toán viên phải dựa trên giả định rằng có rủi ro có gian lận trong việc ghi nhận doanh thu để đánh giá xem loại doanh thu nào, giao dịch hoặc cơ sở dẫn liệu nào liên quan đến doanh thu mà có thể dẫn đến các rủi ro đó.
Hai đoạn khác làm cho giả định này có sức nặng:
- Đoạn 27: kiểm toán viên phải coi các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá là các rủi ro đáng kể, và phải tìm hiểu các kiểm soát có liên quan của đơn vị.
- Đoạn 47: khi kết luận giả định về rủi ro gian lận trong ghi nhận doanh thu là không phù hợp với cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải lưu trong hồ sơ kiểm toán các cơ sở dẫn đến kết luận đó.
Nói cách khác, gánh nặng chứng minh bị đảo ngược. Kiểm toán viên không cần lý do để nghi doanh thu. Kiểm toán viên cần lý do để thôi nghi. Hướng dẫn tại đoạn A30 đưa ví dụ về một trường hợp có thể loại trừ: đơn vị chỉ có một loại giao dịch doanh thu đơn giản duy nhất, như doanh thu cho thuê từ một bất động sản cho thuê duy nhất. Với phần lớn doanh nghiệp, ví dụ đó không áp dụng được.
2. Vì sao lại là doanh thu
Phần hướng dẫn của chuẩn mực trả lời trực tiếp:
Đoạn A28: Sai sót trọng yếu do việc lập báo cáo tài chính gian lận liên quan đến ghi nhận doanh thu thường xuất phát từ việc ghi nhận thừa doanh thu thông qua việc, ví dụ ghi nhận doanh thu trước kỳ hoặc ghi nhận doanh thu khống. Sai sót này cũng có thể xuất phát từ việc ghi nhận thiếu doanh thu thông qua việc, ví dụ chuyển ghi nhận doanh thu sang kỳ sau một cách không thích hợp.
Đoạn A29 chỉ ra nơi rủi ro cao hơn: tổ chức niêm yết mà hiệu quả hoạt động được đánh giá bằng tăng trưởng doanh thu hoặc lợi nhuận giữa các năm, và đơn vị bán hàng chủ yếu theo phương thức thu tiền mặt.
Đoạn A1 giải thích cơ chế chung của gian lận bằng ba yếu tố: động cơ hoặc áp lực, ví dụ Ban Giám đốc phải đạt mục tiêu lợi nhuận; cơ hội, ví dụ một cá nhân có thể khống chế kiểm soát nội bộ; và việc hợp lý hóa hành vi. Doanh thu hội đủ cả ba: nó là con số chịu nhiều áp lực nhất, là chỗ Ban Giám đốc có nhiều xét đoán nhất, và dễ hợp lý hóa nhất (“chỉ là ghi sớm vài ngày thôi”). Bảy cách thức cụ thể được phân tích ở bài bảy kiểu nâng khống doanh thu.
3. Kiểm toán viên làm gì với doanh thu
Phụ lục của Chuẩn mực số 240 đưa ra các ví dụ biện pháp xử lý cụ thể đối với rủi ro gian lận trong ghi nhận doanh thu (mục B.1). Đặt cạnh các kiểu nâng khống phổ biến, mỗi thủ tục nhắm vào một kiểu:
| Thủ tục theo mục B.1 | Nhắm vào |
|---|---|
| Phân tích doanh thu theo tháng, theo dòng sản phẩm, theo bộ phận, so với các kỳ trước; dùng máy tính để tìm nghiệp vụ bất thường | Doanh thu dồn cuối kỳ; khách hàng mới bất thường; doanh thu vòng tròn |
| Xác nhận với khách hàng điều khoản hợp đồng và những “thỏa thuận phụ” không được cung cấp: tiêu chuẩn nghiệm thu, điều khoản thanh toán, nghĩa vụ tương lai của bên bán, quyền trả lại, giá trị bán lại được bảo đảm | Nhồi hàng kèm quyền trả lại; bán kèm cam kết mua lại |
| Phỏng vấn nhân viên bán hàng, tiếp thị, tư vấn pháp luật về các giao dịch gần cuối kỳ và điều khoản bất thường | Thỏa thuận miệng, phụ lục không đưa cho phòng kế toán |
| Có mặt tại địa điểm vào thời điểm kết thúc kỳ để chứng kiến hàng đã vận chuyển hay chưa, hàng trả lại chờ xử lý, và kiểm tra chia cắt niên độ doanh thu và hàng tồn kho | Ghi nhận trước khi giao hàng |
| Kiểm tra kiểm soát hệ thống khi doanh thu được hạch toán bằng máy tính, bảo đảm nghiệp vụ được hạch toán đầy đủ và phù hợp | Nghiệp vụ nhập tay, sửa số trên hệ thống |
Thủ tục thứ hai đáng để người làm kế toán chú ý nhất. Chuẩn mực nói rõ lý do: việc hạch toán “thường bị ảnh hưởng bởi các điều khoản hoặc thỏa thuận thường không được ghi chép đầy đủ trong hồ sơ”. Kiểm toán viên được hướng dẫn đi hỏi thẳng khách hàng những gì phòng kinh doanh có thể đã không đưa cho phòng kế toán.
4. Bút toán cuối kỳ: kiểm tra bắt buộc
Đoạn 32 đặt một yêu cầu không phụ thuộc vào đánh giá rủi ro: cho dù kiểm toán viên đánh giá khác nhau về rủi ro Ban Giám đốc khống chế kiểm soát, kiểm toán viên vẫn phải thiết lập và thực hiện thủ tục để:
- kiểm tra tính thích hợp của các bút toán ghi sổ và các điều chỉnh khác khi lập báo cáo tài chính, gồm phỏng vấn người tham gia ghi sổ về các hoạt động bất thường, và lựa chọn các bút toán, điều chỉnh được thực hiện vào cuối kỳ kế toán (điểm a);
- soát xét các ước tính kế toán để xem có sự thiên lệch hay không (điểm b);
- đánh giá lý do kinh tế của các giao dịch quan trọng nằm ngoài hoạt động kinh doanh thông thường hoặc có vẻ bất thường (điểm c).
Với doanh thu, điểm a có nghĩa là mọi bút toán ghi tăng doanh thu làm tay vào những ngày cuối năm, hoặc sau ngày khóa sổ, là đối tượng kiểm tra đương nhiên. Điểm c nhắm vào các giao dịch lớn, lạ, thường là với bên liên quan, như đã phân tích ở bài doanh thu từ bên liên quan.
5. Ai phải kiểm toán
Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 liệt kê các đơn vị có báo cáo tài chính hằng năm phải được kiểm toán, gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính và doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán, cùng doanh nghiệp nhà nước và một số đơn vị có vốn nhà nước.
Luật số 56/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/01/2025) sửa Luật Kiểm toán độc lập ở hai điểm đáng chú ý:
- Bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 37: doanh nghiệp khác có quy mô lớn phải kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm theo quy định của Chính phủ.
- Không được bố trí kiểm toán viên hành nghề ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị quá năm năm liên tục.
Điểm thứ hai có hệ quả thực tế: cứ tối đa năm năm, doanh nghiệp sẽ gặp một kiểm toán viên ký báo cáo mới, nhìn doanh thu bằng con mắt mới. Những cách ghi nhận đã “quen” với kiểm toán viên cũ sẽ bị hỏi lại từ đầu.
6. Người làm kế toán chuẩn bị gì
Biết kiểm toán viên sẽ làm gì thì chuẩn bị đúng thứ đó. Danh sách dưới đây đi theo đúng các thủ tục ở mục 3 và 4:
- Bảng doanh thu theo tháng, theo dòng sản phẩm, theo khách hàng, có sẵn giải thích cho mọi biến động lớn. Tháng 12 cao đột biến thì ghi rõ vì sao.
- Bộ hồ sơ đầy đủ cho các hợp đồng lớn cuối kỳ: hợp đồng, mọi phụ lục, thư trao đổi về điều khoản trả lại, nghiệm thu, thanh toán. Nếu phòng kinh doanh có thỏa thuận riêng với khách, phòng kế toán nên biết trước kiểm toán viên.
- Chứng từ chia cắt niên độ: phiếu xuất kho, biên bản giao nhận, chứng từ vận chuyển của những ngày cuối kỳ và đầu kỳ sau, khớp với hóa đơn và bút toán doanh thu.
- Danh sách bút toán điều chỉnh cuối kỳ, mỗi bút toán có người lập, người duyệt, lý do và chứng từ đi kèm.
- Danh sách bên liên quan và các giao dịch với họ, kèm căn cứ giá, sẵn để đối chiếu với thuyết minh theo Chuẩn mực kế toán số 26.
- Hàng bán bị trả lại, chiết khấu, giảm giá phát sinh đầu kỳ sau, vì kiểm toán viên sẽ tìm chúng khi kiểm tra chia cắt niên độ.
Chuẩn bị kỹ không chỉ giúp buổi làm việc nhanh hơn. Khi kiểm toán viên phát hiện sai sót mà đơn vị không điều chỉnh, ý kiến kiểm toán có thể bị ảnh hưởng, và với những đơn vị bắt buộc kiểm toán, báo cáo kiểm toán là tài liệu đi kèm báo cáo tài chính khi nộp và công khai.
Kết luận
Việc kiểm toán viên hỏi về doanh thu kỹ hơn mọi khoản mục khác không phải vì nghi riêng một doanh nghiệp nào. Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu điều đó như một điểm xuất phát, dựa trên kinh nghiệm tích lũy rằng phần lớn gian lận trên báo cáo tài chính đi qua dòng doanh thu, chủ yếu bằng cách ghi trước kỳ hoặc ghi khống.
Với người làm kế toán, cách tốt nhất để đi qua cuộc kiểm toán là tự làm trước những việc kiểm toán viên sẽ làm: phân tích doanh thu theo tháng, soát chia cắt niên độ, gom đủ phụ lục hợp đồng, giải trình bút toán cuối kỳ. Những việc đó cũng chính là cách tự bảo vệ chữ ký của mình trên báo cáo, như bài báo cáo tài chính gian dối: ai ký thì ai chịu đã nêu.
Vì sao kiểm toán viên luôn soi doanh thu kỹ nhất?
Vì đoạn 26 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 yêu cầu kiểm toán viên dựa trên giả định rằng có rủi ro có gian lận trong việc ghi nhận doanh thu. Muốn loại bỏ giả định này, kiểm toán viên phải lưu cơ sở vào hồ sơ kiểm toán theo đoạn 47.
Chuẩn mực kiểm toán về gian lận còn hiệu lực không?
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 được ban hành kèm Thông tư 214/2012/TT-BTC, hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia ghi nhận Thông tư này còn hiệu lực.
“Thỏa thuận phụ” mà kiểm toán viên hỏi là gì?
Là các điều khoản hoặc thỏa thuận ngoài hợp đồng chính ảnh hưởng tới việc ghi nhận doanh thu, như tiêu chuẩn nghiệm thu, điều khoản thanh toán, nghĩa vụ tương lai của bên bán, quyền trả lại sản phẩm, giá trị bán lại được bảo đảm. Chuẩn mực số 240 hướng dẫn kiểm toán viên xác nhận trực tiếp với khách hàng về những thỏa thuận này.
Doanh nghiệp nào phải kiểm toán báo cáo tài chính?
Theo Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập 67/2011/QH12, gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng và tổ chức chứng khoán, doanh nghiệp nhà nước và một số đơn vị có vốn nhà nước. Luật số 56/2024/QH15 bổ sung doanh nghiệp khác có quy mô lớn theo quy định của Chính phủ.
Kiểm toán viên có kiểm tra bút toán cuối năm không?
Có, và đây là yêu cầu bắt buộc. Đoạn 32 Chuẩn mực số 240 yêu cầu kiểm toán viên lựa chọn và kiểm tra các bút toán ghi sổ, điều chỉnh được thực hiện vào cuối kỳ kế toán, bất kể đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro Ban Giám đốc khống chế kiểm soát.
- Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 “Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính”, ban hành kèm Thông tư số 214/2012/TT-BTC, hiệu lực từ ngày 01/01/2014: đoạn 26, 27, 32, 47, A1, A28, A29, A30 và Phụ lục, mục B.1
- Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, hiệu lực từ ngày 01/01/2012, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/01/2025): Điều 37
- Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 26 “Thông tin về các bên liên quan”, ban hành kèm Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC
Nguồn
Cùng tuyến bài: nâng khống doanh thu
Bản đồ cả tuyến: Nâng khống doanh thu: bản đồ các câu hỏi, ba nấc hệ quả và năm việc kế toán nên làm
- Man City và 115 cáo buộc: khi tiền của chủ đi một vòng thành doanh thu
- Tiền chủ sở hữu đưa vào công ty: doanh thu, thu nhập khác, vốn góp hay nợ vay
- Doanh thu từ bên liên quan: bốn chỗ con số có thể bị gạt đi
- Bảy kiểu nâng khống doanh thu và dấu vết chúng để lại trên báo cáo tài chính
- Doanh thu khống và thuế: nộp thêm thuế rồi vẫn bị phạt, và chuỗi hóa đơn khống hai đầu
- Báo cáo tài chính có doanh thu khống: người ép, người làm, người ký chịu tới đâu
- Bộ báo cáo để đi vay: nâng doanh thu cho ngân hàng, gói thầu, nhà đầu tư, và ranh giới lừa đảo
- Luckin Coffee, Wirecard, Satyam: ba vụ nâng khống doanh thu và những dấu hiệu đã bị bỏ qua
Bài liên quan
Để lại một bình luận