Công ty thiếu vốn lưu động, giám đốc bỏ tiền túi cho công ty vay 3 tỷ, lãi suất 15% một năm. Hợp đồng có, tiền chuyển khoản đầy đủ, lãi trả hằng tháng. Đến quyết toán, toàn bộ 450 triệu tiền lãi bị loại khỏi chi phí được trừ.
Lý do không nằm ở lãi suất, cũng không nằm ở chứng từ. Nó nằm ở một dòng khác trên giấy phép: vốn điều lệ đăng ký 5 tỷ, các thành viên mới góp 2 tỷ. Phần vốn điều lệ còn thiếu 3 tỷ đúng bằng khoản vay, nên toàn bộ lãi của khoản vay đó không được trừ.
Vay tiền của chính giám đốc, chủ sở hữu hay cổ đông là nghiệp vụ rất phổ biến ở doanh nghiệp nhỏ. Nó hợp pháp, nhưng có ba lớp điều kiện xếp chồng lên nhau, và bỏ sót một lớp là mất phần chi phí lãi vay.
- Lớp 1 là trần lãi suất: vay của đối tượng không phải tổ chức tín dụng, phần lãi suất vượt mức quy định tại Bộ luật Dân sự thì không được trừ. Mức đó là 20% một năm.
- Lớp 2 là vốn điều lệ còn thiếu: lãi vay tương ứng phần vốn điều lệ chưa góp đủ không được trừ, kể cả khi doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh.
- Lớp 3 là trần 30% áp cho doanh nghiệp có giao dịch liên kết, và khoản vay của chủ có thể chính là thứ tạo ra quan hệ liên kết đó.
- Đã góp đủ vốn điều lệ thì lãi vay để đầu tư vào doanh nghiệp khác được tính vào chi phí được trừ.
- Người cho vay là cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên khoản lãi nhận được, thuộc nhóm thu nhập từ đầu tư vốn.
1. Lớp thứ nhất: trần lãi suất
Nghị định 320/2025/NĐ-CP xếp vào nhóm không được trừ: phần chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng vượt quá mức quy định tại Bộ luật Dân sự.
Mức đó nằm ở khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13:
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20% một năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trần này chỉ áp cho bên cho vay không phải tổ chức tín dụng: cá nhân, doanh nghiệp khác trong nhóm, người thân. Vay ngân hàng thì lãi suất theo hợp đồng tín dụng, không bị trần 20% này chặn.
Trên thực tế, ít doanh nghiệp cho vay nội bộ với lãi suất trên 20%, nên lớp này ít khi là chỗ vướng. Hai lớp sau mới là nơi mất tiền.
2. Lớp thứ hai: lãi vay tương ứng vốn điều lệ còn thiếu
Đây là quy định gây thiệt hại nhiều nhất, và cũng là quy định ít được nhắc tới nhất khi doanh nghiệp quyết định đăng ký vốn điều lệ.
Nghị định 320/2025/NĐ-CP loại khỏi chi phí được trừ: chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ, với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư, đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp, mà tiến độ góp vốn tối đa không được vượt quá thời hạn góp vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp, kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh.
2.1. Hai công thức tính phần bị loại
| Trường hợp | Phần lãi vay không được trừ |
|---|---|
| Số tiền vay nhỏ hơn hoặc bằng số vốn điều lệ còn thiếu | Toàn bộ lãi tiền vay |
| Số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu, doanh nghiệp có nhiều khoản vay | Tỷ lệ phần trăm giữa vốn điều lệ còn thiếu trên tổng số tiền vay, nhân với tổng số lãi vay |
| Số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu, doanh nghiệp chỉ có một khoản vay | Vốn điều lệ còn thiếu nhân lãi suất của khoản vay nhân thời gian góp vốn điều lệ còn thiếu |
2.2. Thử lại bằng số
Quay lại ví dụ ở đầu bài: vốn điều lệ 5 tỷ, đã góp 2 tỷ, còn thiếu 3 tỷ. Giám đốc cho công ty vay 3 tỷ, lãi suất 15% một năm, tiền lãi cả năm là 450 triệu.
Số tiền vay 3 tỷ bằng đúng số vốn điều lệ còn thiếu, nên rơi vào dòng đầu bảng: toàn bộ 450 triệu lãi vay không được trừ.
Đổi một con số: nếu các thành viên đã góp đủ 5 tỷ, khoản vay 3 tỷ đó không còn tương ứng với phần vốn thiếu nào, và toàn bộ 450 triệu vào chi phí được trừ bình thường, miễn lãi suất không vượt 20% một năm.
Nói cách khác, khoảng cách giữa hai kịch bản đó là 450 triệu chi phí, và thứ tạo ra khoảng cách chỉ là việc góp đủ vốn điều lệ đã đăng ký. Đây là lý do nên đăng ký vốn điều lệ ở mức góp được thật, chứ không đăng ký cao cho đẹp giấy phép.
Mốc 90 ngày để góp đủ vốn và các hệ quả khác của việc góp thiếu nằm ở bài riêng về thời hạn góp vốn.
2.3. Chiều ngược lại
Nghị định cũng nói rõ chiều thuận: trường hợp doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ, trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả lãi tiền vay để đầu tư vào doanh nghiệp khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Đây là điểm đáng lưu ý với các nhóm công ty: điều kiện cần là góp đủ vốn điều lệ của chính công ty đi vay, chứ không phải mục đích sử dụng khoản vay.
3. Lớp thứ ba: trần 30% khi có giao dịch liên kết
Doanh nghiệp có giao dịch liên kết còn chịu thêm một trần nữa: tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay không được vượt 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng chi phí lãi vay thuần cộng chi phí khấu hao trong kỳ.
Điểm cần nhận ra: khoản vay từ chính chủ sở hữu có thể là thứ tạo ra quan hệ liên kết. Khi hai ngưỡng của quy định về bên liên kết cùng bị vượt, doanh nghiệp bước vào diện có giao dịch liên kết, và từ đó toàn bộ chi phí lãi vay, kể cả lãi vay ngân hàng, đều nằm dưới trần 30%.
Nghĩa là một khoản vay nội bộ tưởng nhỏ có thể kéo theo hệ quả lên toàn bộ danh mục vay của doanh nghiệp. Hai ngưỡng đó và cách tính trần được trình bày ở bài về giao dịch liên kết.
4. Phía người cho vay: thuế thu nhập cá nhân
Cá nhân cho doanh nghiệp vay và nhận lãi thì khoản lãi đó thuộc thu nhập từ đầu tư vốn, tính theo từng lần phát sinh nhân thuế suất 5%. Nhóm thu nhập này không được giảm trừ gia cảnh.
Doanh nghiệp chi trả có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay. Đây là bước hay bị bỏ ở doanh nghiệp nhỏ, vì tiền lãi thường được trả gọn cho chủ mà không qua bảng kê nào.
So sánh nhanh với các đường lấy tiền khác từ công ty: mức 5% của lãi vay ngang với cổ tức, nhưng khác ở chỗ lãi vay là chi phí của công ty nếu vượt qua được ba lớp điều kiện ở trên, còn cổ tức thì không. Bốn đường lấy tiền và mức thuế từng đường nằm ở bài riêng.
5. Danh mục kiểm trước khi ký hợp đồng vay
- Kiểm vốn điều lệ đã góp đủ chưa. Đây là việc đầu tiên, trước cả việc bàn lãi suất. So số dư tài khoản 4111 với vốn điều lệ trên giấy phép.
- Nếu chưa góp đủ, cân nhắc góp đủ vốn trước rồi mới vay, hoặc đăng ký giảm vốn về đúng số thực góp.
- Đặt lãi suất dưới 20% một năm, và ghi rõ lãi suất trong hợp đồng.
- Chuyển tiền qua tài khoản cả hai chiều: khi nhận vốn vay và khi trả gốc, trả lãi.
- Lập hợp đồng vay bằng văn bản trước khi tiền chuyển, không ký lùi ngày.
- Khấu trừ và nộp thay thuế thu nhập cá nhân 5% trên khoản lãi trả cho cá nhân, lưu chứng từ khấu trừ.
- Tính thử hai ngưỡng của quan hệ liên kết cho khoản vay, để biết doanh nghiệp có bước vào diện chịu trần 30% hay không.
- Nếu đã thuộc diện có giao dịch liên kết, lập bảng theo dõi phần lãi vay vượt trần và hạn chuyển tiếp 05 năm.
Kết luận
Vay tiền của chủ là cách xoay vốn nhanh và ít thủ tục nhất với doanh nghiệp nhỏ. Nhưng phần chi phí lãi vay chỉ đứng được khi qua đủ ba lớp: lãi suất dưới 20% một năm, vốn điều lệ đã góp đủ, và tổng lãi vay nằm trong trần 30% nếu doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
Trong ba lớp đó, lớp thứ hai là lớp làm mất nhiều tiền nhất và cũng dễ xử lý trước nhất. Chỉ cần một lần đối chiếu số vốn thực góp với vốn điều lệ trên giấy phép, trước khi ký hợp đồng vay, là tránh được cả khoản chi phí bị loại.
Cho công ty vay với lãi suất bao nhiêu thì được trừ chi phí?
Với bên cho vay không phải tổ chức tín dụng, phần lãi suất vượt mức quy định tại Bộ luật Dân sự không được trừ. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đặt mức không quá 20% một năm của khoản tiền vay.
Chưa góp đủ vốn điều lệ mà vay thì lãi vay có được trừ không?
Phần lãi vay tương ứng với vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu thì không được trừ, kể cả khi doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh. Nếu số tiền vay nhỏ hơn hoặc bằng số vốn điều lệ còn thiếu thì toàn bộ lãi tiền vay là khoản chi không được trừ.
Vay nhiều khoản thì tính phần bị loại thế nào?
Khi số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu và doanh nghiệp có nhiều khoản vay, phần lãi vay không được trừ bằng tỷ lệ phần trăm giữa vốn điều lệ còn thiếu trên tổng số tiền vay, nhân với tổng số lãi vay.
Chỉ có một khoản vay thì tính ra sao?
Phần lãi vay không được trừ bằng số vốn điều lệ còn thiếu nhân lãi suất của khoản vay nhân thời gian góp vốn điều lệ còn thiếu.
Đã góp đủ vốn, vay để đầu tư vào công ty khác thì lãi vay có được trừ không?
Được. Trường hợp doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ, trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả lãi tiền vay để đầu tư vào doanh nghiệp khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ.
Giám đốc nhận lãi từ khoản cho công ty vay thì nộp thuế gì?
Khoản lãi đó thuộc thu nhập từ đầu tư vốn, chịu thuế thu nhập cá nhân theo từng lần phát sinh với thuế suất 5%, và doanh nghiệp chi trả có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay.
Vay của chủ có làm phát sinh giao dịch liên kết không?
Có thể. Khi khoản vay vượt cùng lúc hai ngưỡng theo quy định về bên có quan hệ liên kết thì doanh nghiệp bước vào diện có giao dịch liên kết, và toàn bộ chi phí lãi vay khi đó chịu thêm trần 30%.
- Nghị định số 320/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Điều 9, hiệu lực từ ngày 15/12/2025
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, khoản 1 Điều 468
- Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, quy định về thu nhập từ đầu tư vốn
- Nghị định số 255/2026/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết, hiệu lực từ ngày 01/7/2026
Để lại một bình luận